Duy trì hợp đồng lao động để hưởng chế độ ốm đau có phải trục lợi BHXH?

Tình huống pháp lý

Người lao động mắc bệnh cần chữa trị dài ngày và không trực tiếp làm việc trong thời gian điều trị. Doanh nghiệp không chấm dứt hợp đồng lao động, tiếp tục lập hồ sơ trên cơ sở giấy ra viện và giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng BHXH để người lao động được giải quyết chế độ ốm đau. Việc này có bị xem là trục lợi quỹ BHXH không?

Giải đáp pháp lý

Phần 1: Không thể kết luận là trục lợi BHXH chỉ vì doanh nghiệp tiếp tục duy trì hợp đồng lao động và người lao động không trực tiếp làm việc trong thời gian dài điều trị bệnh.

Cần phân biệt hai trường hợp:

  • Người lao động “không làm việc” vì đang nghỉ điều trị bệnh, nhưng hợp đồng lao động vẫn có hiệu lực, hợp pháp: về nguyên tắc vẫn có thể hưởng chế độ ốm đau nếu đáp ứng điều kiện và hồ sơ trung thực.
  • Người lao động thực tế đã thôi việc hoặc quan hệ lao động chỉ tồn tại trên giấy tờ, nhưng doanh nghiệp vẫn kê khai người này đang nghỉ ốm để nhận tiền BHXH: có dấu hiệu gian lận, trục lợi.

NLĐ nghỉ điều trị bệnh dài ngày không đương nhiên làm chấm dứt hợp đồng lao động:

Điểm b khoản 1 Điều 36 Bộ luật Lao động năm 2019 cho phép người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động (HĐLĐ) không xác định thời hạn khi người lao động đã điều trị liên tục 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục. Đây là quyền lựa chọn của doanh nghiệp, không phải nghĩa vụ bắt buộc phải chấm dứt HĐLĐ.

Theo đó, doanh nghiệp có thể tiếp tục duy trì HĐLĐ với người đang điều trị bệnh trong thời gian dài mà không phải đương nhiên chấm dứt hợp đồng. Thủ tục chấm dứt HĐLĐ phải tuân thủ theo quy định tại Bộ luật Lao động.

Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội hoặc do Ngân sách nhà nước bảo đảm (khoản 1 điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội 2024). Tính nhân văn của Bảo hiểm xã hội/Nhà nước thể hiện thông qua việc chi trả trợ cấp ốm đau cho người lao động đã có thời gian làm việc, cống hiến, đóng bảo hiểm đầy đủ mà không may bị bệnh hiểm nghèo.

Đồng thời, theo Điều 42 và Điều 43 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024, người lao động đang làm việc theo HĐLĐ phải nghỉ việc để điều trị bệnh và có hồ sơ y tế hợp lệ được hưởng chế độ ốm đau trong thời gian luật định. Người mắc bệnh thuộc danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày và vẫn tiếp tục điều trị có thể tiếp tục hưởng chế độ sau khi hết thời gian hưởng ốm đau thông thường.

Vì vậy, việc duy trì HĐLĐ, kể cả xuất phát từ chính sách nhân sự nhân văn nhằm bảo đảm quyền lợi cho người lao động, tự thân không phải hành vi vi phạm pháp luật.

Phần 2: Khi nào việc duy trì hợp đồng lao động có nguy cơ trở thành trục lợi?

Rủi ro phát sinh khi việc duy trì hợp đồng là một phần của hành vi cố ý tạo lập thông tin không đúng sự thật để cơ quan BHXH chi trả khoản tiền mà người lao động không đủ điều kiện hưởng.

Các dấu hiệu cần đặc biệt lưu ý gồm:

  • Người lao động đã thực tế nghỉ việc (tạm hoãn HĐLĐ) hoặc hai bên đã thống nhất chấm dứt quan hệ lao động nhưng cố tình không lập thủ tục chấm dứt để tiếp tục nhận chế độ;
  • Hợp đồng được ký hoặc duy trì khống, không có vị trí công việc thực tế;
  • Giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng BHXH, giấy ra viện hoặc thông tin điều trị bị mua bán, sửa chữa, làm giả hoặc cấp không đúng thực tế;
  • Người lao động vẫn làm việc, được chấm công hoặc hưởng đủ lương trong cùng những ngày kê khai nghỉ ốm;
  • Doanh nghiệp khai sai số ngày nghỉ, thời gian điều trị hoặc tình trạng lao động;
  • Có sự bàn bạc, thông đồng hoặc phân chia khoản tiền BHXH nhận được.

Điều 9 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 nghiêm cấm gian lận, giả mạo hồ sơ, đăng ký hoặc báo cáo sai sự thật và thông đồng, móc nối để thực hiện hành vi vi phạm về BHXH.

Rủi ro hành chính và hình sự

Nếu doanh nghiệp làm giả hoặc cố ý làm sai lệch hồ sơ để trục lợi, ngoài nghĩa vụ hoàn trả khoản tiền đã hưởng không đúng, doanh nghiệp có thể bị xử phạt hành chính theo từng hồ sơ vi phạm. Theo Nghị định số 283/2026/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 10/09/2026, mức phạt đối với tổ chức về nguyên tắc bằng hai lần mức phạt đối với cá nhân, tương ứng từ 20 triệu đồng đến 40 triệu đồng cho mỗi hồ sơ, tổng mức phạt hành chính có thể lên tới 150.000.000 đồng.

Nếu cá nhân có trách nhiệm cố ý lập hoặc sử dụng hồ sơ giả để lừa dối cơ quan BHXH và số tiền chiếm đoạt từ 10 triệu đồng hoặc gây thiệt hại từ 20 triệu đồng, hành vi có thể bị xem xét theo Điều 214 Bộ luật Hình sự. Pháp nhân thương mại không phải chủ thể chịu trách nhiệm hình sự về tội danh này, nhưng người đại diện, người phụ trách nhân sự, kế toán hoặc người trực tiếp tham gia có thể bị truy cứu nếu đủ yếu tố cấu thành.

Khuyến nghị của N2Law

Doanh nghiệp có cơ sở tiếp tục giải quyết chế độ ốm đau và chưa có dấu hiệu trục lợi nếu đồng thời kiểm soát được các nội dung sau:

01

Hợp đồng lao động đang còn hiệu lực và không trong tình trạng tạm hoãn thực hiện.

02

Người lao động không làm việc vì đang thực tế điều trị bệnh.

03

Tình trạng bệnh đáp ứng điều kiện hưởng chế độ ốm đau, bao gồm điều kiện về bệnh cần chữa trị dài ngày nếu vượt giới hạn thông thường.

04

Giấy ra viện và giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng BHXH được cấp đúng thẩm quyền, đúng lần khám và đúng tình trạng bệnh.

05

Bảng chấm công, bảng lương và hồ sơ BHXH thống nhất về số ngày nghỉ.

06

Người lao động không đồng thời đi làm hoặc hưởng nguyên lương trong những ngày đề nghị thanh toán.

07

Doanh nghiệp kê khai trung thực, không sửa chữa hoặc bổ sung thông tin sai lệch.

(chuẩn bị bởi Vũ Thị Phương Thảo và rà soát bởi Ls Nguyễn Thị Hằng Nga)